Site icon vivu

Chùa Bút Tháp – Bốn bảo vật quốc gia trong ngôi chùa cổ

Chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự) nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, khu Bút Tháp, phường Trí Quả, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, nhân dân trong vùng còn gọi là chùa Nhạn Tháp, chùa Thấp. Tên cũ của chùa trước đây gồm có: Thiếu Lâm Tự, Hoàng Cung Tự.

Chùa Bút Tháp

Trong chùa có tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Đây cũng là một di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4.

Để xác định chùa có từ bao giờ thì chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra một tài liệu chính xác. Theo sách Địa chí Hà Bắc (1982) thì chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278). Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đã trụ trì ở đây. Ông cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Ngọn tháp này nay không còn nữa. Đến thế kỷ 17, chùa đã trở nên nổi tiếng với sư trụ trì là Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590-1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Năm 1644, Hòa thượng viên tịch và được vua Lê phong là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”. Tiếp đó, người kế nghiệp trụ trì chùa Bút Tháp là Thiền sư Minh Hạnh, học trò xuất sắc của Hòa thượng Chuyết Chuyết. Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diệu Viên) đã rời bỏ cung thất, về đây tu hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép Chúa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của, ruộng lộc ra công đức để trùng tu lại ngôi chùa. Đến năm 1647, chùa mới được làm xong. Chùa kiến trúc theo kiểu “Nội Công Ngoại Quốc”. Về cơ bản, quy mô và cấu trúc của chùa Bút Tháp hiện nay chính là ngôi chùa được xây dựng trong thời kỳ đó.

Chùa Bút Tháp

Đời vua Tự Đức, năm 1876, khi vua qua đây thấy có một cây tháp hình dáng khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Bảo Nghiêm.

Chùa Bút Tháp

Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915, 1921 và gần đây vào năm 1992-1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô hoàn chỉnh nhất còn lại ở Việt Nam.

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử và nghệ thuật, chùa Bút Tháp đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 313-VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962.

Kiến trúc

Đây là một trong không nhiều ngôi chùa cổ, có quy mô kiến trúc lớn của Đồng bằng Bắc Bộ còn lại đến ngày nay. Chùa có kiến trúc độc đáo, bố cục hài hòa giữa kiến trúc với môi trường thiên nhiên. Toàn bộ kiến trúc chính của chùa quay theo hướng Nam, một hướng truyền thống của người Việt. Đối với đạo Phật hướng Nam là hướng của trí tuệ, của bát nhã.

Chùa Bút Tháp

Quần thể kiến trúc còn giữ lại nhiều di tích của thế kỷ 17. Cụm kiến trúc trung tâm ở Chùa Bút Tháp bao gồm 8 đơn nguyên chạy song hành được bố trí đăng đối trên một đường “Thần Đạo” và được bao bọc bởi hai dãy hành lang chạy suốt dọc chùa ở hai bên, đó là tòa Tiền Đường Thượng Điện, cầu đá tòa Thích Thiện Am Trung Đường, phủ thờ nhà Hậu Đường và hàng tháp đá. Sự bố trí chặt chẽ ở khu vực trung tâm này thể hiện một nội dung tư tưởng về giáo lý của đạo Phật. Phật điện của chùa gần như nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, gồm 10 nếp nhà nằm trên một trục dài hơn 100 m. Qua cửa Tam quan, đến gác chuông hai tầng, tám mái.

Chùa Bút Tháp

Chùa chính với ba dãy nhà Tiền đường – Thiên hương – Thượng điện tạo thành chữ “công”. Cách bố trí như vậy làm nổi bật điện thờ bên trong với các pho tượng.

Kiến trúc chùa vẫn dùng khung gỗ chịu lực nhưng nền bệ lan can dùng đá rất phổ biến, trên có những hình động vật được khắc trông sinh động và độc đáo. Trang trí được thể hiện ở mọi nơi trên các chất liệu gỗ và đá, ở kiến trúc và ở các đồ thờ. Đặc biệt trên lan can tòa Thượng Điện có 26 bức chạm khắc đá, trên lan can cầu đá nối với Tòa Thích Thiện Am có 12 bức và ở lan can quanh chân tháp Báo Nghiêm có 13 bức. Như vậy tổng cộng các bức chạm khắc đá ở chùa Bút Tháp là 51 với những đề tài khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở mặt chất liệu, phong cách và thống nhất về niên đại.

Hình ảnh chạm khắc ở đây sống động tươi vui hàm chứa ý nghĩa Phật đạo và đặc biệt mang đậm nét tính chất nghệ thuật thiền. Các bức chạm đều tập trung về đề tài thiên nhiên phong phú sinh động như Tứ Linh Quý.

Không gian kiến trúc giữa các hạng mục của chùa được kết nối bằng cầu, bậc hè, thềm tạo cảm giác liền mạch.

Chùa Bút Tháp

Kiến trúc điêu khắc ở chùa Bút Tháp được đánh giá đạt trình độ bậc cao, thể hiện qua hệ thống chạm khắc gỗ dày đặc, tinh xảo và thống nhất. Các mảng chạm trổ kết hợp hài hòa giữa hình tượng rồng, hoa sen, mây lửa và linh thú, vừa mang tinh thần Phật giáo, vừa phản ánh tư duy vương quyền đương thời.

Chùa Bút Tháp

Kỹ thuật chạm bong (tạo độ nổi, độ sâu), chạm lộng (tạo độ thoáng, độ mở) tạo chiều sâu và cảm giác chuyển động mạnh, cho thấy tay nghề điêu luyện và thẩm mỹ đặc sắc của nghệ nhân thế kỷ 17.

Nhờ sự linh thiêng, cảnh đẹp, không gian rộng, tĩnh lặng, hằng ngày chùa Bút Tháp thu hút được nhiều người dân đến lễ Phật, vãn cảnh.

Chùa Bút Tháp

Tháp Báo Nghiêm

Chùa có tháp Báo Nghiêm thờ Hoà thượng Chuyết Chuyết, đỉnh tháp là ngọn bút trông giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao thanh vắng. Tháp cao 13,05 mét, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng hơn với mái hiên nhô ra; bốn tầng trên gần giống nhau, mỗi cạnh rộng 2 m. Năm góc của 5 tầng có 5 quả chuông nhỏ. Lòng tháp có một khoang tròn đường kính 2,29 m. Ngoài kỹ thuật xây dựng đá, phần bệ tượng được bao quanh bằng hai vòng tường cấu tạo bằng cột và lan can. Riêng ở tầng dưới cùng của toà tháp này có mười ba bức chạm đá với lấy đề tài chủ yếu là các con thú. Tháp thể hiện tài ghép đá và nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời của người thợ Việt Nam xưa.

Tháp Báo Nghiêm

Bốn bảo vật quốc gia trong ngôi chùa cổ

Các kiến trúc điêu khắc độc đáo của thế kỷ 17 được hội tụ trong bốn bảo vật quốc gia tại chùa Bút Tháp, trong đó có tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay.

Trong chùa hiện có bốn bảo vật quốc gia, trong đó bảo vật đầu tiên là tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (Thiên thủ thiên nhãn). Tượng được công nhận là bảo vật quốc gia trong đợt công bố đầu tiên năm 2012, làm bằng gỗ, phủ sơn son thếp vàng, tạo tác năm 1656.

Tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (Thiên thủ thiên nhãn)

Bảo vật cửu phẩm liên hoa (cối kinh) chế tác cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 được đặt trong tích thiện am – kiến trúc đặc biệt nhất của chùa.

Bảo vật cửu phẩm liên hoa (cối kinh) chế tác cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18

Cửu phẩm liên hoa hình bát giác, cao 7,8 m, xếp 9 tầng, 8 mặt theo kiểu tòa sen, thể hiện 9 kiếp tu của đức Thích Ca Mâu Ni. Chín tầng cối kinh tạc hàng trăm tượng phật, hoa lá, chim muông, tập trung chủ đề khuyến thiện trừ ác, giới thiệu hành trang các vị tổ thiền tông, các đại sư, các cấp độ thăng hoa trên đường lên cõi niết bàn.

Bảo vật cửu phẩm liên hoa (cối kinh) chế tác cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18
Bảo vật cửu phẩm liên hoa (cối kinh) chế tác cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18

Cũng trong năm 2020, bộ tượng Tam thế Phật gồm Phật quá khứ – Ca Diếp, Phật hiện tại – Thích Ca Mâu Ni, và Phật vị lai – Di Lặc, được công nhận bảo vật quốc gia.

Bộ tượng Tam thế ở chùa Bút Tháp đại diện cho phong cách tạo hình thời Lê Trung Hưng với đặc điểm mắt không nổi khối, khuôn mặt đầy đặn, tràn nở, môi dày, đỉnh đầu có xu hướng phẳng, nở sang hai bên. Đây là những đặc điểm khác với tượng tam thế ở giai đoạn nhà Mạc.

Bộ tượng Tam thế Phật gồm Phật quá khứ – Ca Diếp, Phật hiện tại – Thích Ca Mâu Ni, và Phật vị lai – Di Lặc

Bảo vật hương án (bàn thờ) chùa Bút Tháp được giới khảo cổ đánh giá độc đáo, mỗi hình tượng rồng lại có nét điểm riêng. Tại phần thân, các ô hộc hình vuông được trang trí đồ án rồng cuộn, nằm trong lá đề, bên ngoài có mây lửa bao quanh hay thân rồng đang vận động, bám vào thân cột.

Mỗi chân trụ có một hình rồng với đầy đủ đầu, thân, bàn chân trước của rồng. Rồng trong tư thế đang ngóc đầu, miệng ngậm ngọc báu, bờm và tia lửa, chân rồng có vảy và lộ ra các móng sắc nhọn. Cùng lúc chân hương án còn có đồ án hổ phù tạo cảm giác thẩm mỹ từ sự kết hợp giữa thần quyền và vương quyền.

Exit mobile version