Đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh là một di tích lịch sử đã được Nhà nước Việt Nam công nhận. Đền bà Chúa Kho Bắc Ninh là một đền thờ Mẫu nằm tại vùng quê kinh Bắc nổi tiếng văn hiến, lâu đời. Có địa chỉ cụ thể tại đền Cổ Mễ, phường Vũ Ninh thành phố Bắc Ninh. Đền được xây dựng vào thời nhà Lý với mong muốn tưởng nhớ tấm lòng bao dung, cũng như những cống hiến to lớn của Bà cho dân tộc. Truyền thuyết về đền Bà Chúa Kho Bắc Ninh luôn được người dân khắp nơi lưu giữ và truyền lại cho con cháu thế hệ đời sau như một di sản văn hóa quan trọng, quý giá.
Truyền thuyết
Tương truyền rằng vào thời nhà Lý, tại làng quê thanh bình Quả Cảm có người con gái vừa xinh đẹp, nết na vừa giỏi giang, khéo léo. Người con gái đó không chỉ có nhan sắc tuyệt trần mà còn biết tổ chức sắp xếp các công việc sản xuất, tích trữ lương thực, thực phẩm, giúp dân chống đói, giúp quân chống giặc. Một lần hành quân qua làng Quả Cảm, vua Lý đã đem lòng cảm mến người con gái tài sắc vẹn toàn đó, và đưa bà vào cung làm hoàng hậu.
Tuy chỉ xuất thân trong gia đình nông dân, nghèo khó quanh năm gắn bó với ruộng đồng nhưng Bà lại là người rất thông minh, đa tài đa trí, cầm kỳ thi họa. Có thể nói là tài sắc vẹn toàn, người gặp là sẽ cảm mến. Khi được Vua Lý đưa vào cung làm vợ, bà đã tiến hành nhiều phương thức thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, khai hoang ruộng đất để canh tác. Đặc biệt Bà nhận thấy tại vùng quê nơi bà sinh ra đất đai còn hoang sơ, nên đã xin vua cho về quê để chiêu dân, lập ấp, gia tăng canh tác, nâng cao chất lượng đời sống của người dân nơi đây.
Vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ – 1077 nước ta chính thức bị quân Tống kéo quân sang xâm lược. Toàn dân được Lý Thường Kiệt lãnh đạo để kháng chiến chống lại quân Tống hung ác. Và chính tại ngôi làng của Bà – làng Cổ Mễ, núi Kho, Cầu Gạo… đã được chủ quân lựa chọn làm nơi đặt lương thực. Bà đã tự mình cai quản, chỉ đạo, sắp xếp, sản xuất, tiếp tế lương thực cho quân đội tại kho lương ở chiến tuyến quan trọng tại Sông Như Nguyệt. Cũng như đảm bảo lương thực đời sống cho người dân nơi đây. Trong quá trình hoạt động, khi cuộc chiến gần như đã chiến thắng thì bà bị quân giặc giết chết trong một lần đi tiếp tế cho dân.
Vua Lý khi biết tin đã vô cùng thương tiếc, nên đã phong cho bà danh hiệu Phúc Thần để nói lên những công lao to lớn, vĩ đại mà Bà đã dành cho nhân dân, cho dân tộc. Người dân cũng thương nhớ và biết ơn Bà nên đã lập đền thờ tại chính kho lương cũ ở núi Kho và đặt tên cho đền thờ là đền Bà Chúa Kho. Để thể hiện lòng tôn kính, biết ơn mà nhân dân nơi đây dành cho Bà Chúa Kho.
Vị trí
Đền Bà Chúa Kho nằm trên lưng chừng ngọn núi Kho, tại khu Cô Mễ, phường Vũ Ninh, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Đây không chỉ là khu di tích lịch sử có giá trị nằm trong quần thể di tích của khu Cô Mễ (gồm: Đình – Chùa – Đền) mà còn là nơi hàng năm nhân dân khắp cả nước hành hương mang tính tín ngưỡng.
Ngay sau đền thờ Bà Chúa vẫn còn một đường hầm có kết cấu hình mái vòm nằm lùi sâu trong chân núi, chỗ cao nhất của đường hầm là gần 2m, đào xuyên qua lòng núi Kho để đi ra phía sông Cầu (sông Như Nguyệt), cửa hầm phía này rất khó bị phát hiện. Các bô lão nhiều đời đều nói đường hầm do Bà Chúa Kho xây dựng. Thời xa xưa, khi chưa có đê điều chống úng lụt cao rộng, kiên cố như bây giờ có lẽ cửa hầm cũng chính là bến cảng để tập kết và điều chuyển binh lực, vật lực đi các nơi.
Đây cũng là cứ điểm quân sự lợi hại bởi tính bất ngờ, đặc biệt dễ thủ khó công. Khi đêm xuống quân đội Nhà Lý có thể bí mật tập kích quân địch đang đóng ở bờ bên kia sông Như Nguyệt sau đó xuôi dòng rút quân lên thành Thị Cầu. Phía trước đền Bà Chúa Kho là một đầm nước rất rộng bao quanh 3 mặt là núi có thể đi thuyền nhẹ vào tận chân núi Chùa hoặc xuyên ra hồ Thủy (nay đã bị bồi lấp) tiến theo hướng nam để về thành cổ Bắc Ninh (dọc theo đường tàu hỏa ngày nay). Suối Hoa xưa nằm trên con đường này; 1 mặt còn lại đi ra sông (nay bi chắn bởi con đê bằng bê tông). Trong những năm chiến tranh chống Mĩ nó là nơi đóng quân của tiểu đoàn cầu phà quân đội ta nên có thể suy ra rằng thời xưa có thể là nơi tập kết của thủy binh nhà Lý.
Ngôi đền có liên quan đến sự kiện Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1076. Vào thời đó ở làng Cô Mễ, núi Kho, Cầu Gạo… vốn là những nơi đặt kho lương thực của quân Lý ở bờ nam chiến tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu). Núi Kho, núi Dinh, Thị Cầu cũng vốn là một vị trí chiến lược có thể kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long xưa.
Cẩm nang du lịch
Từ hình ảnh người phụ nữ gánh vác hậu cần giữa thời chiến đến biểu tượng linh thiêng phù giúp ban phát tài lộc, Bà Chúa Kho đi vào đời sống tâm linh của người Việt như một vị thần giữ kho, giữ của bảo trợ cho việc làm ăn, buôn bán, tích trữ và tài lộc.
Đền Bà Chúa Kho không chỉ là nơi để xin tài, cầu lộc, mà còn là nơi hội tụ của nhiều lớp tín ngưỡng Việt cổ, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ – một di sản văn hóa đặc sắc được UNESCO ghi danh. Năm 1989, đền được công nhận là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia.
Tục lệ vay – trả
Lễ hội đền Bà Chúa Kho diễn ra từ ngày 12 đến 15 tháng Giêng, trong đó chính hội là 12, ngày giỗ Bà Chúa Kho. Lễ hội gồm nghi thức rước lễ, dâng hương, cầu tài lộc. Sau lễ chính, đền Bà Chúa Khoa vẫn đông khách hành hương cho tới khoảng tháng ba Âm lịch.
Tục lệ “vay vốn làm ăn” ở đền Bà Chúa Kho từ lâu đã trở thành hiện tượng tâm linh người dân trên mọi miền tổ quốc biết đến. Đầu năm xin lộc để gây dựng sự nghiệp, cuối năm dù thành hay bại cũng quay về “trả lễ” như một lời cảm ơn, cũng là cách để giữ cân bằng tâm thức, hướng về điều thiện lành.
Người dân đến lễ tùy tâm, không bị ràng buộc bởi lễ vật hay hình thức. Lễ vật có thể đơn giản chỉ là nén nhang, một chút tiền lẻ và một tấm lòng thành.
Hằng năm, vào mùa xuân, thường từ sau Tết Nguyên đán, rất đông khách hành hương về đền Bà Chúa Kho để “vay lộc – cầu tài – cầu bình an”.
Người đi lễ chuẩn bị sớ trình bày nguyện vọng vay vốn, đồng thời sắm mâm lễ gồm hương hoa, lễ vật và tiền vàng mã, trong đó vàng thỏi mã được xem là biểu trưng cho “vốn liếng” tâm linh.
Tín chủ dâng lễ tại cung chính, khấn trình đầy đủ họ tên, địa chỉ, số vốn mong muốn “vay” và mục đích sử dụng. Sau khi chờ hết một tuần hương, sớ và tiền vàng được đem hóa. Theo quan niệm dân gian, việc hóa vàng mã đồng nghĩa “nguồn vốn” đã được Bà Chúa Kho chấp thuận và ghi nhận trong kho lộc tâm linh của người vay.
Đi kèm với việc vay lộc là trách nhiệm “trả lễ” vào cuối năm, thể hiện nguyên tắc “có vay có trả” trong ứng xử tâm linh. Nghi thức tạ lễ thường diễn ra vào tháng 11 hoặc tháng 12 Âm lịch.
Lễ vật dâng tạ thường tương xứng hoặc nhiều hơn lễ đã dâng khi vay đầu năm. Mức trả bao nhiêu tùy mỗi người, song nhiều người quan niệm trả gấp nhiều lần để bày tỏ lòng biết ơn và sự thành tín sau một năm làm ăn thuận lợi.
Các khu vực trong đền
Đền Bà Chúa Kho nằm trên thế đất phong thủy và linh khí vùng Kinh Bắc, lưng tựa núi, mặt hướng sông. Kiến trúc là sự kết hợp giữa cổ kính và tôn nghiêm, với hệ thống các công trình như:
Cổng Tam Quan – gác chuông
Trước khi vào đền, khách sẽ bước qua cổng Tam Quan, với ba lối đi tượng trưng cho quá khứ – hiện tại – tương lai, ứng với ba điều Thân – Khẩu – Ý trong đạo Phật, nhắc nhở cần giữ tâm tịnh, lòng sáng. Chuông đền như “gột rửa bụi trần”, khiến bước chân khách hành hương chậm lại, trước khi bước vào không gian thờ tự.
Tháp Cửu Thiên – biểu tượng trời đất giao hòa
Nổi bật giữa sân đền là tháp Cửu Thiên – công trình tâm linh hình vuông, thu nhỏ thế giới quan trong văn hóa Á Đông. Tháp được chia thành 9 tầng, tượng trưng cho 9 tầng trời, vừa mang tính tôn giáo, vừa thể hiện khát vọng vươn lên của con người trong mối liên kết thiêng liêng với Trời – Đất – Người.
Tháp thường là nơi dừng chân đầu tiên của khách hành hương, nơi họ ngẩng đầu cầu nguyện, cúi đầu thành kính – và bắt đầu chuyến hành trình tâm linh.
Nhà sắp lễ – tòa Tiền Tế – Hậu Cung
Nhà sắp lễ là không gian phục vụ khách chuẩn bị lễ vật trước khi hành lễ. Nơi đây được bố trí gọn và thuận tiện, giữ không khí trang nghiêm nhưng gần gũi, giúp mọi người – dù lần đầu đến đền – thấy thuận tiện.
Tòa Tiền Tế nằm sau sân đền, là nơi đặt các ban thờ chính, nổi bật với mái ngói cổ, đầu đao cong, kèo gỗ lim chạm khắc hoa văn phong cách nghệ thuật thời Lê – Nguyễn.
Hậu Cung, nơi linh khí hội tụ, là nơi đặt ban thờ Bà Chúa Kho, luôn được hương khói quanh năm. Hậu cung gồm ba gian: Tứ Phủ Công Đồng, Đệ Nhị Cung, Đệ Nhất Cung (Tam tòa Thánh Mẫu) và Cung cấm thờ Bà Chúa Kho.
Nơi này chỉ mở cửa vào một số dịp đặc biệt trong năm như những ngày lễ, hội. Du khách đến hành hương chỉ được vào lễ trong cung không quá 10 phút.
Cung Mẫu – ban Cô – ban Cậu
Phía sau Hậu Cung là Cung Mẫu, nơi thờ các vị Thánh Mẫu – đại diện cho Thiên – Địa – Nhân trong tín ngưỡng Tứ phủ. Không gian nhiều màu sắc, được bài trí trang nghiêm với long ngai, lọng che, y môn, đèn nến… tạo cảm giác linh thiêng và ấm áp.
Hai bên là ban Cô và ban Cậu – nơi thờ các vị Thánh nữ, Thánh nam thuộc hệ thống tín ngưỡng dân gian. Khách đến đây thường xin duyên lành, bình an cho con cái, cầu mong thuận lợi trong học hành, công việc, gia đạo…
Các công trình khác
Sau khi tham quan các công trình kiến trúc của chùa, du khách có thể ghé thăm nhà thờ Bác Hồ hay hầm kháng chiến nơi diễn ra trận chiến lịch sử của quân dân làng Cô Mễ và sư đoàn 365 ngày 17/10/1967 đã bắn rơi 5 máy bay Mỹ. Cùng với đền Bà Chúa Kho, đình chùa làng Cô Mễ, tạo nên một tổng thể di tích hài hòa giữa tâm linh và lịch sử.
Lễ vật đền Bà Chúa Kho
Lễ chay: thường gồm hương, hoa tươi, trà, quả, oản phẩm… dâng lên ban Thánh Mẫu, thể hiện sự thanh tịnh và thành tâm của người lễ.
Lễ mặn: thường là thịt gà, thịt lợn đã chế biến chín.
Lễ đồ sống: kiêng đặt các lễ vật còn sống như trứng, gạo, muối hoặc thịt tươi tại ban Quan Ngũ Hổ, Bạch Xà, Thanh Xà ở hạ ban Công Đồng Tứ Phủ, tránh phạm lễ.
Cỗ Sơn Trang: bao gồm các đặc sản chay truyền thống của Việt Nam. Không sử dụng các món như cua, ốc, lươn hay các gia vị cay nồng như ớt, chanh quả. Nếu có xôi chè nấu từ nếp cẩm, cũng được xếp vào phần lễ này.
Lễ ban thờ Cô, thờ Cậu: Thường chuẩn bị oản, hoa quả, hương cùng những vật phẩm nhỏ như gương, lược… Lễ vật thường được làm tinh xảo, kích thước nhỏ, bày trong túi xinh xắn, trang nhã.
Lễ thần Thành Hoàng, Thư Điền: Nên dâng lễ chay để cầu phúc lành và mong lời khấn nguyện được linh ứng.
Di chuyển
Đền Bà Chúa Kho nằm cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 45 km. Thời gian di chuyển khoảng 60-70 phút tùy điều kiện giao thông. Hướng đi phổ biến nhất qua Quốc lộ 1A hoặc cao tốc Hà Nội – Bắc Giang.
Xe buýt: xe số 54 (Long Biên – Bắc Ninh) hoặc 203 (Giáp Bát – Bắc Ninh) đều có điểm dừng ở trung tâm Bắc Ninh (thành phố Bắc Ninh cũ). Giá vé 15.000 đồng một lượt.
Lưu trú
Khách hành hương đến đền Bà Chúa Kho chủ yếu đi về trong ngày do đường đi thuận tiện. Nếu kết hợp đi thêm nhiều nơi tham quan, du khách có thể lưu trú tại nhiều khách sạn và nhà nghỉ trong trung tâm Bắc Ninh.
Các khách sạn cao cấp: Vinpearl Bac Ninh, Mường Thanh Luxury, Mandala Bac Ninh, Grand Phoenix Hotel, Amira Hotel… có giá từ 800.000 đồng một đêm. Các khách sạn khác có giá dao động từ 300.000 đồng đến hơn 600.000 đồng một đêm.
Bắc Ninh cũng có căn hộ dịch vụ tại các tòa nhà cao tầng, các homestay với giá dao động từ 500.000 đồng một đêm.
Ăn uống
Trong trung tâm Bắc Ninh, khách hành hương có thể chọn các món ăn và địa chỉ sau:
Phở gan cháy
Món ăn dùng bánh phở truyền thống, nhưng thành phần chính là gan lợn được được làm cháy, ăn cùng thịt lợn nạc hoặc tim cật xào cùng các loại rau. Nước dùng ninh từ xương. Món ăn khá quen thuộc với người dân Bắc Ninh, thường được dùng vào buổi sáng hoặc trưa.
Địa chỉ: quán Vinh Xương (đường Trần Lựu), quán Trường Giang (Hồ Ngọc Lân), quán Chung Mười (Cầu cảng Đáp Cầu, đường Nguyễn Gia Thiều)…
Cháo cá Tích Nghi
Cháo cá Tích Nghi dùng cá chép, cá trắm, được nấu đặc sánh. Cháo không có vị tanh nhờ sơ chế kỹ và kết hợp nhiều loại gia vị như tiêu, giấm tỏi, ớt khô. Cháo có vị ngọt, nhừ của gạo, béo ngậy, tươi của thịt cá và mùi thơm của các loại rau sống. Một số nơi còn bán kèm trứng cá rán vàng. Khi ăn, thực khách có thể thêm 1-2 thìa mắm ớt để tăng vị cay.
Địa chỉ: Cháo cá Tích Nghi có quán gốc ở phường Vệ An, giá từ 30.000 đồng một bát. Ngoài ra, còn có các quán ở đường Hồ Ngọc Lân, Thiên Đức, Chín Mười, Ngọc Hà, 158…
Chuỗi quán cà phê An
An là chuỗi quán cà phê phổ biến ở trung tâm Bắc Ninh, với nhiều quán có không gian đẹp, yên bình, mang phong cách văn hoá truyền thống Kinh Bắc, thể hiện qua kiến trúc, tranh vẽ, đồ trang trí, thực đơn và các hoạt động trải nghiệm dành cho khách hàng.
Ngoài ra, Bắc Ninh có nhiều món ăn nổi tiếng như bánh phu thê, nem Bùi, bánh khúc làng Diềm, bánh tẻ làng Chờ, rượu làng Vân…
Lưu ý
Dịp lễ hội, lưu ý kẻ gian móc túi, không nên mang nhiều tiền mặt.
Khách hành hương nên chuẩn bị lễ từ trước hoặc mua tại các cửa hàng uy tín, mua ở gần cổng đền thường bị ép giá.
Khách lưu ý trang phục lịch sự, gọn gàng, đi giày thể thao để dễ di chuyển.
Không đặt tiền lên ban thờ, hãy bỏ vào hòm công đức.
Nguồn: Vnexpress + wikipedia
