Site icon vivu

Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm thành phố khoảng 30 km về phía Nam.

Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ XVII và XVIII. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển.

Phố Cổ Hội An

Thế kỷ XIX, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam.

Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phân bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp.

Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp.

Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.

Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1999 (ngày 4 tháng 12), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí:

Tên gọi Hội An

Dưới thời Lê vào khoảng thế kỷ 16, tấm bản đồ do đại thần Đỗ Bá vẽ in trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ có ghi lần đầu tiên các địa danh Hội An phố, Hội An đàm, Hội An kiều. Trên tấm bia Phổ Đà Linh Sơn Trung Phật tại động Hoa Nghiêm, Ngũ Hành Sơn ghi tên những người góp tiền xây dựng chùa, tên làng Hội An được nhắc tới ba lần.

Người phương Tây xưa kia gọi Hội An bằng cái tên Faifo. Xuất xứ của cái tên này ngày nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết. Một giả thuyết phổ biến cho rằng Faifo xuất phát từ tên Hội An phố, cái tên sử sách và địa chí Trung, Việt đều nhắc tới. Theo một thuyết khác, nhánh sông Thu Bồn chảy qua phố cổ Hội An hiện nay có tên là sông Hoài, nên Hội An còn được gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố [Faifo]. Về sau, trên bản đồ chính thức của chính quyền Đông Dương, người Pháp đều sử dụng tên Faifo để chỉ Hội An.

Phố Cổ Hội An

Lịch sử

Thời kỳ tiền Hội An

Tuy địa danh “Hội An” được cho rằng xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 16, nhưng vùng đất xung quanh đô thị này đã có một lịch sử rất lâu đời. Trong suốt thời kỳ “tiền Hội An”, nơi đây từng tồn tại hai nền văn hóa lớn, đó là văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm Pa.

Di chỉ đầu tiên của văn hóa Sa Huỳnh là phố Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi bị cát vùi lấp, được các nhà khảo cổ người Pháp phát hiện. Chỉ riêng trong khu vực thành phố Hội An đã phát hiện được hơn 50 địa điểm là di tích của nền văn hóa này, phần lớn tập trung ở những cồn cát ven sông Thu Bồn. Đặc biệt, sự phát hiện hai loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán, những hiện vật sắt kiểu Tây Hán… đã minh chứng ngay từ đầu Công nguyên, nơi đây đã bắt đầu có những giao dịch ngoại thương.

Thời kỳ Hội An

Hội An ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ 16, thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự trị vì của nhà Lê.

Vào năm 1527, Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê, vùng Đông Kinh thuộc quyền cai quản của nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim nhân danh nhà Lê tập hợp binh sĩ chống lại nhà Mạc.

Sau khi Nguyễn Kim chết năm 1545, người con rể Trịnh Kiểm nắm giữ quyền hành, dòng họ Nguyễn Kim bị lấn át. Năm 1558, người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và một số binh lính lui về cố thủ ở vùng Thuận Hóa và từ sau năm 1570, Nguyễn Hoàng tiếp tục nắm quyền trấn thủ Quảng Nam. Cùng với con trai là Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Hoàng xây dựng thành lũy, ra sức phát triển kinh tế Đàng Trong, mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài và Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời kỳ đó.

Vào năm 1567, triều đình nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng, cho thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia vùng Đông Nam Á, nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Bản. Điều này đã bắt buộc Mạc phủ Toyotomi rồi Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho các thuyền buôn Châu Ấn sang mở rộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á và mua lại hàng hóa Trung Quốc từ các quốc gia đó. Nơi thuyền Châu Ấn đi qua nhiều nhất chính là cảng Hội An.

Hội An trong bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ

Các thương nhân người Nhật khi đó tới bán những đồ đồng, tiền đồng, sắt, đồ gia dụng… và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương… Khoảng năm 1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ 17. Qua bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ của Chaya Shinroku, có thể thấy khu phố người Nhật với những công trình kết cấu gỗ hai, ba tầng. Nhưng khoảng thời gian tiếp sau, do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa cũng những chính sách đàn áp người Nhật Công giáo của chúa Nguyễn, khu phố Nhật ở Hội An dần bị lu mờ. Mặc dù vẫn còn một số nhỏ người Nhật định cư lại đây nhưng người Hoa dần thay thế vai trò của người Nhật trong việc buôn bán.

Khác với người Nhật, những người Hoa biết đến Hội An từ rất sớm, ngay từ thời vùng đất này còn thuộc về vương quốc Chăm Pa. Đến thời kỳ người Việt thay thế người Chăm, những thương nhân Trung Hoa vẫn tiếp tục tới buôn bán vì các tỉnh miền Nam của Trung Quốc rất cần các mặt hàng muối, vàng, quế… Mặc dù vậy, trong suốt thời kỳ tiền Hội An, người Hoa chỉ tới buôn bán rồi trở về, không ở lại định cư, lập phố xá. Phải sau loạn Minh Thanh xảy ra khoảng giữa thế kỷ 17, đặc biệt sau khi nhà Minh bị thất thủ, rất nhiều người Hoa di cư tới Trung Bộ Việt Nam và xây dựng nên nhiều cộng đồng Minh Hương Xã. Tại Hội An, người Hoa tới lưu trú ngày một nhiều và thế chân người Nhật nắm quyền buôn bán.

Thời kỳ suy vong

Thế kỷ 19, cửa sông Cửa Đại ngày càng bị thu hẹp lại và con sông Cổ Cò cũng bị phù sa bồi lấp, khiến các thuyền lớn không còn ghé được cảng Hội An. Bên cạnh đó, triều đình nhà Nguyễn cũng thực hiện chính sách đóng cửa, hạn chế quan hệ với nước ngoài, đặc biệt các quốc gia phương Tây. Từ đó, Hội An dần suy thoái, mất đi vị thế cảng thị quốc tế quan trọng. Mặc dù vậy, với vai trò một trung tâm thương nghiệp lớn, thành phố vẫn được phát triển, những con đường mới về phía Nam dòng sông được xây dựng và các khu phố được mở rộng thêm.

Năm 1888, khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, nhiều người Hoa tới đó để bỏ vốn lập các cơ sở vận tải, thương mại, một số khác tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh ở cả Hội An và Đà Nẵng. Nhưng do giao thông đường thủy ngày càng trở nên khó khăn, cùng với chính sách phát triển Đà Nẵng của người Pháp, hoạt động thương nghiệp ở Hội An dần bị đình trệ. Mặc dù vậy, phần lớn các kiến trúc nhà ở trong khu phố cổ, các hội quán còn lại đến ngày nay đều có hình dáng được tạo nên từ giai đoạn này.

Đầu thế kỷ 20, tuy mất đi vai trò cảng thị quan trọng, hoạt động buôn bán ở Hội An chưa khi nào chấm dứt và nơi đây vẫn là thị xã, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam. Khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được thành lập vào năm 1976, thành phố Đà Nẵng trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới, Hội An rơi vào một thời kỳ bị quên lãng. Chính nhờ sự thay đổi vai trò trong lịch sử, cộng với nhiều yếu tố khác nên Hội An đã may mắn tránh được sự biến dạng của quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ở Việt Nam trong thế kỷ 20.

Từ thập niên 1980, Hội An bắt đầu nhận được sự chú ý của các học giả Việt Nam, Nhật Bản và phương Tây. Tại kỳ họp lần thứ 23 từ 29 tháng 11 đến 4 tháng 12 năm 1999 ở Marrakech, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc đã ghi tên Hội An vào danh sách các di sản thế giới. Đô thị cổ Hội An dần phồn vinh trở lại nhờ những hoạt động du lịch.

Kiến trúc

Khu phố cổ

Khu phố cổ nằm trọn trong phường Hội An, diện tích khoảng 2 km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ. Nằm sát với bờ sông là đường Bạch Đằng, tiếp đó tới đường Nguyễn Thái Học rồi đường Trần Phú nối liền với Nguyễn Thị Minh Khai bởi Chùa Cầu.

Phố Cổ Hội An

Đường Trần Phú xưa kia là con đường chính của thị trấn, nối từ Chùa Cầu tới Hội quán Triều Châu. Vào thời Pháp thuộc, đường này được mang tên Rue du Pont Japonnais, tức Phố cầu Nhật Bản.

Đường Trần Phú là con đường chính, nơi tập trung nhiều nhất những công trình kiến trúc quan trọng, cũng như những ngôi nhà cổ điển hình cho kiến trúc Hội An. Nổi bật nhất trong số này là các hội quán do người Hoa xây dựng để tưởng nhớ đến quê hương của họ. Nếu bắt đầu từ Chùa Cầu, sẽ thấy năm hội quán trên đường Trần Phú, tất cả đều bên số chẵn: Hội quán Quảng Đông, Hội quán Trung Hoa, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu. Ở góc đường Trần Phú và Nguyễn Huệ là miếu Quan Công, di tích đặc trưng cho kiến trúc đền miếu của người Minh Hương (người Hoa thời nhà Minh di cư qua Việt Nam) ở Việt Nam. Ngay sát miếu về phía Bắc, có thể thấy Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa Hội An, nguyên trước đây là ngôi chùa Quan Âm của dân làng Minh Hương. Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh và Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch cũng nằm trên con đường này.

Bảo tàng gốm sứ Mậu dịch

Theo đường Trần Phú, đi qua Chùa Cầu sẽ dẫn tới đường Nguyễn Thị Minh Khai. Những ngôi nhà truyền thống ở đây được tu bổ và bảo tồn rất tốt, phần lối đi bộ hai bên được lát gạch đỏ, phía cuối đường là vị trí của đình Cẩm Phô.

Phía Tây đường Nguyễn Thái Học có một dãy phố được hình thành bởi những ngôi nhà có kiến trúc mặt tiền kiểu Pháp, còn phần phía Đông là khu phố mua bán nhộn nhịp với những ngôi nhà kiểu hai tầng, diện tích lớn. Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An nằm ở số 33 của con đường này là ngôi nhà cổ lớn nhất khu phố cổ, có chiều dài 57 mét, chiều ngang 9 mét.

Khu phố phía Đông phố cổ từng là khu phố của người Pháp. Trên đường Phan Bội Châu, dãy phố phía Tây được xây dựng san sát những ngôi nhà với mặt đứng kiểu châu Âu, đa số một tầng. Nơi đây từng là nhà ở của các công chức dưới thời Pháp thuộc.

Kiến trúc truyền thống

Kiểu nhà ở phổ biến nhất ở Hội An chính là những ngôi nhà phố một hoặc hai tầng với đặc trưng chiều ngang hẹp, chiều sâu rất dài tạo nên kiểu nhà hình ống. Những vật liệu chính dùng để xây dựng nhà ở đây đều có sức chịu lực và độ bền cao do đặc điểm khí hậu khắc nghiệt và bão lụt hàng năm của vùng này. Thông thường, các ngôi nhà có kết cấu kiểu nhà khung gỗ, hai bên có tường gạch ngăn cách. Khuôn viên trung bình của các ngôi nhà có chiều ngang khoảng 4 đến 8 mét, chiều sâu khoảng 10 đến 40 mét, biến thiên theo từng tuyến phố.

Một ngôi nhà hai tầng vách gỗ có ban công

Bố cục mặt bằng phổ biến của những ngôi nhà ở đây gồm: vỉa hè, hiên, nhà chính, nhà phụ, hiên, nhà cầu và sân trong, hiên, nhà sau ba gian, vườn sau. Thực chất, nhà phố ở Hội An bao gồm nhiều nếp nhà bố trí theo chiều sâu và cấu thành không gian kiến trúc gồm 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng. Cách phân chia này phù hợp với mặt bằng hẹp và kết hợp nhiều công năng của ngôi nhà. Có thể nhận thấy đây là một sản phẩm kiến trúc mang tính văn hóa khu vực.

Ở không gian nhà chính, hệ thống 16 cây cột phân bố 4 x 4 tạo thành phân vị chiều ngang và chiều sâu theo cấu trúc 3 x 3 gian, trong đó 4 cột trung tâm cao hơn hẳn các cột còn lại. Đây chính là không gian dành cho buôn bán với gian đầu từ đường vào là chỗ bán hàng, gian kế tiếp là kho hàng hóa được ngăn bằng vách, gian thứ ba bố trí nhà thờ quay mặt vào bên trong. Điểm đặc biệt này là một đặc trưng rất quan trọng của nhà phố Hội An, dù đôi khi cũng có trường hợp bàn thờ quay ra phía đường.

Những ngôi nhà ở Hội An hầu hết được làm theo dạng hai mái, đa số nhà chính và nhà phụ không chung một mái mà là hai nếp mái kế tiếp nhau. Rất ít trường hợp mái nhà chính phủ lên cả phần nhà phụ. Ngược lại, đa số nhà cầu được lợp theo kiểu bốn mái. Trên mặt bằng tổng thể thì nhà trước, nhà cầu và nhà sau được lợp bằng những mái riêng biệt. Ngói ở Hội An là loại ngói làm từ đất, mỏng, nung thô, mang hình vuông, mỗi cạnh khoảng 22 cm và có dạng hơi cong. Khi lợp, đầu tiên người ta xếp một hàng ngói ngửa lên và sau đó tiếp tới một hàng ngói úp xuống. Cách lợp này được gọi là kiểu lợp ngói âm dương. Khi lợp xong mái, các viên ngói được cố định bằng vữa, tạo thành những dải ngói nhô lên dọc xuôi theo mái, khiến toàn bộ mái toát nên một vẻ cứng cáp, mạnh mẽ. Ở trên đỉnh mái, phần nóc mái được xây cao lên hình chữ nhật như một cái hộp, cũng có một số trường hợp hai bên tường hồi cũng được xây cao hẳn làm cho toàn bộ tổng thể dường như bị mất cân đối. Hình thức và cách trang trí của tường hồi luôn gây một ấn tượng mạnh và là yếu tố tạo ra giá trị rất riêng của phố cổ Hội An.

Các di tích kiến trúc

Theo thống kê tháng 12 năm 2000, Di sản thế giới Hội An có 1360 di tích gồm 1068 nhà cổ, 11 giếng nước cổ, 38 nhà thờ tộc, 19 ngôi chùa, 43 miếu thờ thần, 23 đình, 44 mộ cổ loại đặc biệt và 1 cây cầu. Khoảng hơn 1100 di tích trong số này nằm trong khu vực đô thị cổ.

Chùa, đền miếu

Hội An từng là một trung tâm của Phật giáo sớm của Đàng Trong với đa số các ngôi chùa theo dòng Phật giáo Nam truyền. Nhiều ngôi chùa ở đây có niên đại khởi dựng khá sớm, nhưng hầu hết kiến trúc gốc đã bị thay đổi, thậm chí mai một qua những biến thiên của lịch sử và những lần trùng tu. Ngôi chùa sớm nhất được biết đến là chùa Chúc Thánh, tương truyền có gốc gác từ năm 1454, nằm cách trung tâm khu phố cổ khoảng 2 km về phía Bắc. Nơi đây vẫn lưu giữ nhiều di vật, tượng thờ, bia ký liên quan đến quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Đàng Trong.

Chùa Pháp Bảo

Ngoại ô khu phố cổ còn nhiều ngôi chùa khác như Phước Lâm, Vạn Đức, Kim Bửu, Viên Giác… mang niên đại muộn hơn. Giai đoạn đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ ra đời của nhiều ngôi chùa mới, nổi bật trong số này là chùa Long Tuyền hoàn thành vào năm 1909. Trong khu phố cổ, Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa Hội An nguyên trước đây là ngôi chùa thờ Phật bà Quan Âm do người Việt và người Minh Hương khởi dựng vào khoảng thế kỷ 17.

Các công trình đền miếu ở Hội An mang chức năng chính là nơi thờ cúng các vị tiên hiền có công sáng lập phố, hội và Minh Hương Xã. Loại hình kiến trúc này thường có hình thức đơn giản, nằm ngay trong làng xóm, bố cục mặt bằng 1 x 3 gian tường gạch chịu lửa, mái ngói âm dương với ban thờ được đặt ở gian chính giữa.

Tiêu biểu nhất cho loại hình kiến trúc này chính là miếu Quan Công, còn được gọi là Chùa Ông, nằm trong trung tâm khu phố cổ, số 24 đường Trần Phú. Công trình được người Minh Hương và người Việt khởi dựng vào năm 1653, thờ Quan Công, vị tướng thời Tam Quốc, biểu tượng của trung hiếu, tiết nghĩa. Tuy đã qua nhiều lần trùng tu, miếu Quan Công vẫn không mất đi dáng vẻ ban đầu. Toàn bộ miếu bao gồm nhiều nếp nhà với các mái lợp bằng ngói ống men màu xanh lục, kết cấu gồm ba phần: tiền sảnh, sân trời và hậu sảnh. Ở phần tiền sảnh, công trình nổi bật với màu sơn đỏ, những trang trí cầu kỳ, mái ngói vững trãi và hai cánh cửa chính lớn chạm nổi đôi rồng màu xanh đang uốn mình trong mây. Hai bên, sát với tường là chiếc chuông đồng nặng trên nửa tấn và chiếc trống lớn đặt trên giá gỗ do vua Bảo Đại ban tặng. Tiếp đó đến phần sân trời, khoảng trống lộ thiên trang chí các hòn non bộ, tạo cho miếu vẻ sáng sủa, thoáng mát. Hai bên sân trời là hai nếp nhà dọc Đông, Tây. Một bia gắn vào tường nhà Đông ghi lại lần trùng tu miếu đầu tiên vào năm 1753. Chính điện nằm ở hậu sảnh, nếp nhà sau cùng, là nơi đặt hương án thờ Quan Công. Tượng Quan Công cao gần 3 mét, mặt đỏ, mắt phượng, râu dài, mặc áo bào màu xanh lục, tọa trên mình con ngựa bạch đang quỳ. Hai bên là tượng Quan Bình và Châu Thương, hai người con nuôi, cũng là hai võ quan trung thành của Quan Công. Trước đây, miếu Quan Công là trung tâm tín ngưỡng của các thương gia Hội An, nơi chứng giám, tạo niềm tin cho các thương gia trong những cuộc giao kèo thương mại. Ngày nay, vào ngày 13 tháng 1 và 24 tháng 6 âm lịch hàng năm, lễ hội Chùa Ông được tổ chức thu hút rất đông tín đồ và dân chúng tới dự.

Miếu Quan Công

Nhà thờ tộc

Tại Hội An, cũng như nhiều địa phương khác của Việt Nam, các dòng họ đều có nơi thờ cúng tổ tiên, được gọi là miếu tộc hay nhà thờ họ. Đây là một dạng kiến trúc nhà ở đặc biệt, của những dòng họ lớn có công lập làng dựng phố từ thời kỳ sơ khai của Hội An và truyền lại cho con cháu làm nơi thờ tự tổ tiên. Những dòng họ nhỏ, nhà thờ họ kết hợp với nhà ở của vị trưởng họ có nguồn gốc từ Trung Hoa. Hậu duệ về sau có trách nhiệm hương khói và tu sửa kiến trúc tùy theo tình trạng ngôi nhà. Phần lớn các nhà thờ họ tập trung ở khoảng giữa hai đường Phan Chu Trinh và Lê Lợi, một số ít rải rác trên đường Nguyễn Thị Minh Khai hay nằm ngay sau những ngôi nhà phố trên đường Trần Phú.

Các nhà thờ tộc có niên đại sớm nhất hầu hết của người Hoa kiều, vào đầu thế kỷ 17, số có niên đại thế kỷ 18 chỉ chiếm một phần nhỏ. Khác với những nhà thờ tộc ở thôn quê, nhà thờ họ ở Hội An thường mang phong cách đô thị. Vì là nơi thờ tự nên nhà thờ tộc được xây dựng theo dạng khuôn viên, có bố cục và kết cấu chặt chẽ, bao gồm cả sân vườn, cổng, tường rào, nhà phụ… Nhiều nhà thờ họ ở đây có quy mô và kiến trúc rất đẹp, như nhà thờ tộc Trần, nhà thờ tộc Trương, nhà thờ tộc Nguyễn hay nhà thờ Tiền hiền Minh Hương.

Nhà thờ tộc Trần nằm ở số 21 đường Lê Lợi, được xây dựng vào đầu thế kỷ 19. Cũng giống như các nhà tộc khác ở Hội An, nhà thờ tọa sâu trong một khuôn viên rộng khoảng 1500 m², tường cao bao quanh, sân trước trồng cây cảnh, hoa, cây ăn quả. Ngôi nhà có kiến trúc chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, dựng từ gỗ quý, 3 gian 2 nếp, mái dốc lợp ngói âm dương. Không gian trong nhà được chia làm hai phần, phần chính để thờ cúng, phần phụ là nơi ở của vị trưởng tộc và tiếp khách. Gian thờ cúng có ba cửa ra vào, trong đó cửa bên phải dành cho nữ, bên trái dành cho nam, cửa chính ở giữa dành cho những người cao tuổi có vai vế trong họ và chỉ mở vào dịp lễ tết. Trên bàn thờ, các hộp nhỏ đựng di vật và tiểu sử những người họ Trần xếp theo vai vế trong dòng tộc. Trong ngày lễ hay giỗ kỵ, vị trưởng tộc sẽ mở những hộp gỗ này để tưởng nhớ đến người quá cố. Phía sau ngôi từ đường có một vạt đất cao dùng để chôn những núm nhau của các thành viên trong tộc khi sinh ra. Cũng trên vạt đất này, phía sau còn trồng một cây khế, tượng trưng cho sự gắn bó với quê hương đất tổ của các thế hệ con cháu trong họ.

Hội quán

Hội quán Phúc Kiến

Một trong những đặc tính nổi trội của người Hoa là bất cứ nơi cư trú nào của họ ở ngoại quốc đều có các hội quán, sản phẩm sinh hoạt cộng đồng dựa trên cơ sở những người đồng hương. Tại Hội An ngày nay vẫn tồn tại 5 hội quán tương ứng với 5 bộ phận dân cư Hoa kiều lớn ở đây: Phúc Kiến, Trung Hoa (Hội quán Ngũ Bang), Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Đông. Các hội quán này có quy mô khá lớn, đều nằm trên trục phố Trần Phú và thống nhất hướng chính ra sông Thu Bồn. Về hình thức, các hội quán ở Hội An được xây dựng theo một nguyên mẫu các hội quán vẫn thường gặp ở những đô thị cổ khác. Đó là một tổng thể bao gồm: cổng lớn phía trước, tiếp đến một khoảng sân rộng có trang trí cây cảnh, non bộ và hai nhà phụ thờ Tả thần và Hữu thần, sau đó là phương đình, nơi tiến hành các nghi lễ, kết thúc bởi nhà thờ, kiến trúc lớn nhất của tổng thể. Các hội quán đều được trang trí cầu kỳ, tỷ mỷ với bộ khung gỗ được chạm trổ, sơn son thếp vàng, phần mái tô điểm các con thú bằng sành tráng men nhiều màu. Ngày nay, các hội quán tuy đã bị thay đổi sửa chữa nhiều, nhưng bộ khung gỗ vẫn bảo lưu được nhiều yếu tố gốc. Ngoài chức năng duy trì sinh hoạt cộng đồng, hội quán còn một chức năng quan trọng khác, đó là tín ngưỡng. Tùy theo tục quán tín ngưỡng của từng cộng đồng mà hội quán lấy cơ sở để thờ phụng.

Hội quán Triền Châu

Trong năm hội quán ở Hội An, Phúc Kiến là hội quán lớn nhất, nằm ở số 46 đường Trần Phú. Buổi ban đầu, nơi đây chỉ là một ngôi chùa lợp tranh do người Việt dựng vào năm 1697 để thờ Phật. Qua thời gian, ngôi chùa bị hư hỏng và người Việt không đủ khả năng để sửa chữa. Những thương nhân Phúc Kiến mua lại ngôi chùa vào năm 1759 và sau nhiều lần trùng tu, năm 1792 đổi thành Hội quán Phúc Kiến. Công trình có kiến trúc theo kiểu chữ Tam, kéo dài từ đường Trần Phú đến đường Phan Chu Trinh, theo thứ tự: cổng tam quan, sân, hai dãy nhà Đông Tây, chính điện, sân sau và hậu điện. Cổng tam quan của hội quán mới được xây dựng trong lần trùng tu lớn đầu thập niên 1970. Chiếc cổng có một hệ mái ngoạn mục gồm 7 mái lợp ngói ống men xanh uốn lượn, xếp nối nhau thấp dần xuống, cân xứng giữa hai bên. Phía cao của cổng, dưới tầng mái trên, một tấm bảng trắng có ghi ba chữ Hán màu đỏ “Kim Sơn Tự”. Phía dưới tầng mái dưới cũng có một tấm biển đá xanh đề bốn chữ Hán màu đỏ “Hội quán Phúc Kiến”. Hai bức tường hai bên cổng tam quan ngăn cách sân trong của hội quán với một sân bên ngoài. Phần chính điện của hội quán được trang trí những cây cột màu đỏ son, treo những đôi liễn gỗ ca tụng Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chính điện thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đang ngồi thiền, phía trước là một lư hương lớn. Hai bên hương án sẽ thấy hai bức tượng Thiên Lý Nhãn và Thượng Phong Nhĩ, hai vị thần phụ tá cho Thiên Hậu cứu giúp các thuyền buôn người Hoa gặp nạn. Tiếp theo chính điện, băng qua sân sau sẽ tới hậu điện. Ở đây phần chính giữa được dành để thờ sáu vị tướng nhà Minh người Phúc Kiến, bên trái là ban thờ 3 bà chúa Sanh Thai và 12 bà mụ, bên phải là ban thờ Thần Tài. Ngoài ra, hậu điện còn thờ những người đã có công đóng góp tiền của xây dựng hội quán và chùa Kim Sơn. Hàng năm, vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu được người Hoa tổ chức với nhiều hoạt động như múa lân, bán pháo hoa, xộ cỗ, xin lộc… thu hút nhiều người dân Hội An và những vùng khác đến tham dự.

Hội quán Hải Nam

Chùa Cầu

Chiếc cầu cổ duy nhất còn lại ở Hội An ngày nay là Chùa Cầu, còn có tên gọi khác là Cầu Nhật Bản. Cây cầu này dài khoảng 18 mét, bắc qua một lạch nước nhỏ chảy ra sông Thu Bồn, nối liền đường Trần Phú với đường Nguyễn Thị Minh Khai. Theo sự tích kể lại thì Cầu Nhật Bản được xây dựng vào năm 1593, nhưng không có một cơ sở chính xác nào để khẳng định điều này.

Trải qua rất nhiều lần trùng tu, hình dáng cây cầu đã bị thay đổi nhiều, dáng vẻ ngày nay được hình thành trong những lần sửa chữa vào thế kỷ 18 và 19. Những trang trí bằng mảnh sứ tráng men hay đĩa sứ là biểu hiện đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn.

Cầu Nhật Bản có một kiến trúc khá độc đáo, kiểu thượng gia hạ kiều, tức trên là nhà dưới là cầu, một loại hình kiến trúc khá phổ biến ở những quốc gia châu Á nhiệt đới. Dù mang tên Cầu Nhật Bản nhưng sau nhiều lần trùng tu, thật khó có thể tìm thấy một chút dấu tích kiến trúc Nhật Bản trên cây cầu này.

Chùa Cầu Nhật Bản

Nhìn từ bên ngoài, cây cầu nổi bật nhờ hệ mái cong mềm mại nâng đỡ bởi một hệ thống kết cấu gỗ, và phần móng được làm bằng vòm trụ đá. Mặt cầu vồng lên kiểu cầu vồng, được lát ván làm lối qua lại, hai bên có bệ gỗ nhỏ, trước kia làm nơi bày hàng buôn bán. Gắn liền với cầu về phía thượng nguồn là một ngôi chùa rất nhỏ thờ Huyền Thiên đại đế, xây dựng sau cầu khoảng nửa thế kỷ. Ngôi chùa nằm ngay cạnh cầu, ngăn cách bởi một lớp vách gỗ và bộ cửa “thượng song hạ bản”, tạo không gian riêng biệt. Trên cửa chùa treo bức hoành màu đỏ với ba chữ “Lai Viễn Kiều” do chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng vào năm 1719 với ý nghĩa cây cầu của những người bạn từ phương xa đến.

Ở mỗi đầu cầu, hai bên lối đi đều có hai bức tượng thú, một bên tượng khỉ, bên kia tượng chó. Các tượng đều được chạm bằng gỗ mít trong tư thế ngôi chầu, phía trước mỗi tượng có một bát nhang. Theo truyền thuyết, con thủy quái Mamazu có đầu nằm ở Nhật Bản, đuôi ở Ấn Độ Dương và thân thì ở Việt Nam, mỗi khi cựa mình sẽ gây ra động đất, thiên tai, lũ lụt. Tuy nhiên trong các sử sách của Nhật Bản thì điều đó không hề được đề cập đến việc đuôi đuôi của Namazu trải dài đến Ấn Độ Dương mà chỉ đề cập về nó trải dài khắp đất nước Nhật Bản, nên có thể đó chỉ là “Truyền Thuyết Địa Phương” để thêm phần thú vị cho khách du lịch. Một thuyết khác cho rằng những bức tượng khỉ và chó xuất hiện trên cầu vì công trình này được khởi dựng vào năm Thân, hoàn thành vào năm Tuất. Cây cầu nhỏ này ngày nay đã trở thành biểu tượng của thành phố Hội An.

Cẩm nang du lịch Hội An

Khí hậu Hội An đan xen khí hậu giữa miền Nam và miền Bắc, rõ rệt mùa mưa và mùa khô. Mỗi mùa phố cổ lại có những nét đẹp riêng.

Ba tháng đầu năm là thời gian lý tưởng nhất để rong chơi tại Hội An khi nắng không quá gắt, trời mát mẻ, thi thoảng có mưa nhỏ.

Từ tháng 4 đến tháng 6 là giai đoạn gay gắt của mùa khô, nhưng thời tiết Hội An khá dễ chịu, do nằm ở phía nam dãy Trường Sơn. Đây cũng là mùa cao điểm du lịch.

Tháng 7 vẫn đang là mùa khô. Sang tháng 8 và 9 là thời điểm giao mùa. Trời vẫn nắng nhẹ, bắt đầu có mưa lác đác và se lạnh về đêm.

Ba tháng cuối năm là mùa mưa ở Hội An, trời ít khi nắng, mưa nặng hạt và đôi khi có lũ lụt. Những du khách từ miền Nam đến Hội An mùa lạnh nên chuẩn bị trang phục phù hợp, tránh để sức khỏe bị ảnh hưởng.

Hội An

Di chuyển

Các hãng hàng không Vietnam Airlines, Vietjet Air, Bamboo Airlines… đều khai thác đường bay tới Đà Nẵng. Giá vé khứ hồi cho một người từ Hà Nội hoặc TP HCM đến Đà Nẵng trung bình khoảng 1,5 triệu đồng. Bạn nên mua vé sớm để có giá tốt và giờ khởi hành thuận tiện.

Đến sân bay Đà Nẵng, bạn có thể chọn đi xe khách trung chuyển từ sân bay, hoặc đi bus, taxi, ôtô riêng để tới trung tâm Hội An. Những người thích tự do đi lại có thể thuê xe máy từ TP Đà Nẵng để vui chơi ở Hội An, với giá khoảng 150.000 đồng một ngày.

Nếu đi xe bus bạn bắt tuyến số 01 Đà Nẵng – Hội An chạy từ 5h30 đến 17h50 hàng ngày với giá vé 20.000 đồng mỗi người. Nếu đi ba người trở lên và muốn di chuyển nhanh gọn từ sân bay thẳng tới Hội An, bạn nên gọi taxi, xe khách trung chuyển với giá từ 250.000 đồng một chuyến.

Để di chuyển ở Hội An bạn có thể sử dụng xe đạp, xe máy thuê từ chính các khách sạn, homestay mình ở. Xe đạp giá thuê khoảng 30.000 đồng một ngày, xe máy là 120.000 đồng.

Khách sạn, homestay

Hội An mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng, nhưng thu hút đông khách nhất vẫn là dịp hè. Do đó nếu đi mùa này bạn nên tìm hiểu nơi ở để đặt phòng càng sớm càng có giá tốt, đặc biệt là những ngày cuối tuần.

Giá khách sạn, resort 4 hoặc 5 sao ở đây vào khoảng 2.500.000 đồng trở lên cho một đêm phòng hai người. Hội An ngày càng có nhiều khu resort mới với vị trí đẹp như ở phường Cẩm Châu, ven biển An Bàng, Cửa Đại…

Homestay ở Hội An cũng mọc lên nhanh chóng những năm gần đây, có thể phục vụ mọi đối tượng từ khách đi một mình, theo nhóm hay gia đình. Không chỉ là một nơi sạch sẽ để ngủ, các homestay đều được chăm chút với kiến trúc, nội thất độc đáo, vườn cây xinh xắn, phòng rộng và thoáng. Giá các homestay Hội An rất rẻ, không dao động nhiều dù vào mùa cao điểm, từ 200.000 đồng một đêm cho một người.

Một số homestay đẹp được các bạn trẻ truyền tai nhau là Maison de Tau, Under The Coconut Tree, An Bàng Beach Hideaway, Heron House, Le Bleu…

Hoa sử quân tử màu đỏ hay hoa giấy màu hồng, cam, trắng nở khắp các ngõ phố ở Hội An vào hè.

Chơi ở đâu?

Quán cà phê

Đối với đồ uống ngoài món nước thảo mộc, trà và cà phê ở Hội An cũng ngon không kém. Hơn nữa mỗi quán trà, cà phê ở khu phố cổ lại mang một nét hấp dẫn riêng.

Nhiều quán nằm sâu trong những căn nhà có tuổi thọ hàng trăm năm, quán lại nằm trên tầng thượng nên khách có thể vừa ngắm phố vừa nhâm nhi đồ uống, hoặc quán có nhân viên phục vụ đều là người khiếm thính…

Người thích ngắm Hội An từ trên cao có thể tới Faifo Café nằm trên tầng 3 một ngôi nhà ở đường Trần Phú. Nếu muốn không gian tĩnh lặng có thể tới quán trà Reaching Out, hoặc thưởng thức kem với cà phê thơm ngon ở Hoi An Roastery…

Ngoài ra nếu chịu khó tìm kiếm trong các ngõ ngách phố cổ bạn còn phát hiện ra nhiều quán trà, cà phê vừa đậm chất phố Hội, vừa mang hơi thở hiện đại bởi thu hút không ít du khách nước ngoài.

Rời trung tâm phố Hội 4-7 km, du khách có thể khám phá các quán cà phê giữa đồng lúa như Roving Chillhouse, Cà phê Xóm Chiêu, Cà phê Lò Gạch Cũ… để tận hưởng không khí trong lành.

Cà phê Lò Gạch Cũ.

Phố cổ

Chỉ riêng khu phố cổ Hội An cũng là một nơi đi mỏi chân cũng không hết điểm check-in cho các bạn trẻ. Mỗi con đường, góc phố cổ kính, dãy nhà quét ve vàng nghệ lại là một điểm dừng chân chụp ảnh thú vị, tìm hiểu văn hóa địa phương…

Với vé tham quan giá 80.000 đồng cho một người giá trị trong 24h bạn có cơ hội tham quan ba trong số những điểm di tích nổi bật nhất ở phố cổ. Đó là Chùa Cầu, các hội quán Phúc Kiến, Quảng Triệu, Hải Nam, Triều Châu, các nhà cổ Quân Thắng, Đức An, Phùng Hưng, Tấn Ký… Ngoài ra vé tham quan cũng bao gồm các hoạt động nghệ thuật đường phố, trò chơi dân gian, chợ đêm… diễn ra sau 7 giờ tối.

Hội An

Các hoạt động trên sông Hoài thường nhộn nhịp nhất từ 18h đến 22h. Để đi thuyền, bạn thuê 200.000 đồng một thuyền và mua hoa đăng thả với giá 10.000 đồng một chiếc.

Về đêm ở phố cổ, bạn có thể dạo các cây cầu ngắm phố lên đèn, nghe nhạc sống trong các quán bar, cà phê, xem các vở diễn nổi tiếng như Sương Sớm, À Ố Show, Teh Dar hay Ký ức Hội An.

Bãi biển

Bãi biển An Bàng thuộc phường Cẩm An, cách trung tâm thành phố Hội An 3 km. Biển trong xanh, sạch, không quá xô bồ, không gian vừa đủ để bạn cảm nhận sự thư thái. Năm 2011, bãi biển An Bàng được CNN bình chọn là một trong 50 bãi biển đẹp nhất thế giới.

Bãi biển Hà My năm 2017 được báo Anh Telegraph chọn là một trong 10 bãi biển đẹp nhất châu Á. Nằm cách An Bàng 3,5 km, cách danh thắng Ngũ Hành Sơn 6 km, và cách trung tâm Hội An gần 7 km, bãi biển Hà My không quá nổi bật nhưng vẫn mang vẻ thanh bình và nét cuốn hút riêng. Tuy cách khá xa trung tâm, Hà My không thiếu homestay hay khách sạn, resort cho du khách lựa chọn.

Bãi biển Cửa Đại là một điểm đến quen thuộc của Hội An, năm 2013 đã được Tripadvisor bình chọn vào top 25 bãi biển đẹp nhất châu Á. Cửa Đại nằm cách trung tâm Hội An 5 km, là bãi tắm rộng khoảng vài chục ha với bãi cát trắng mịn, nước trong xanh, sóng nhỏ. Du khách có thể nằm hàng giờ trên cát để tắm nắng, nghe sóng vỗ rì rào, hoặc đi câu cá gần bờ, thuê thuyền đi lênh đênh cùng dân chài, hay tham gia các môn thể thao dưới nước…

Gần Hội An nhất là biển Cửa Đại, bãi biển An Bàng nằm xa hơn nhưng có sức hút hơn bởi cát trắng mịn và yên tĩnh, tránh xa các dịch vụ du lịch ồ ạt.

Cù Lao Chàm

Nếu bạn xuất phát từ Hội An có 2 phương tiện để ra Cù Lao Chàm là cano và tàu gỗ. Cano thường xuất bến ở Cửa Đại và chỉ khoảng 20 phút sau là bạn có mặt tại Cù Lao Chàm, giá vé là 150.000 – 200.000 đồng mỗi người. Còn đi tàu gỗ xuất phát từ bến Bạch Đằng thì mất gần 2 tiếng nhưng giá rẻ hơn, khoảng 50.000 – 80.000 đồng mỗi người, nếu mang theo xe máy thì thêm 30.000 đồng mỗi chiếc.

Ở Cù Lao Chàm dịch vụ lưu trú chủ yếu là homestay, nhà nghỉ hoặc cho thuê lều trung bình 100.000 – 150.000 đồng mỗi phòng cho 1-2 người lưu trú. Giá thuê lều chừng 100.000 đồng một đêm.

Không chỉ cung cấp dịch vụ ăn, ngủ, nghỉ, những nhà nghỉ và homestay ở đây còn cung cấp các dịch vụ du lịch biển Cù Lao Chàm như: ăn uống, cho thuê xe, tàu thuyền tham quan đảo, lặn biển ngắm san hô, câu cá, đi bộ dưới đáy biển…

Những điểm tham quan là Nhà bảo tàng biển Cù Lao Chàm, Chùa Hải Tạng, Giếng cổ Chăm, Chợ Tân Hiệp,đảo Yến, miếu tổ nghề Yến, bãi Đá Chồng…

Làng nghề

Làng rau Trà Quế nổi tiếng với các loại rau tươi ngon được trồng trên đất đai màu mỡ. Làng nằm ở xã Cẩm Hà, cách trung tâm Hội An 3 km. Tới đây du khách sẽ có dịp tìm hiểu hàng chục loại rau lá và rau gia vị đa dạng.

Du khách còn được trải nghiệm cuộc sống nông dân thực thụ khi tự tay xới đất, ươm trồng và thu hoạch các loại rau. Sau đó là thưởng thức đặc sản Hội An chế biến cùng các loại tươi ngon vừa thu hoạch như bánh vạc, hến trộn, tôm hữu, mì Quảng, cao lầu…

Những luống rau xanh mướt ở làng Trà Quế nhìn từ trên cao.

Làng gốm Thanh Hà có từ cuối thế kỷ 15, nằm cách phố cổ Hội An khoảng 3 km về phía tây, ngay cạnh sông Thu Bồn. Các sản phẩm của làng không chỉ có nồi niêu, gạch ngói, chén đĩa, mà còn có nhiều đồ lưu niệm độc đáo. Khách tới làng vừa được tìm hiểu về nghề vừa tự tay nhào nặn làm sản phẩm gốm riêng cho mình.

Làng mộc Kim Bồng là ngôi làng có tuổi đời hơn 600 năm. Nơi đây nổi tiếng tạo ra các tác phẩm mộc tinh xảo, độc đáo, từ nhà cửa tới thuyền và ngày nay là những sản phẩm mĩ nghệ, trang trí, lưu niệm.

Làng đúc đồng Phước Kiều có tuổi đời lên tới 400 năm. Đến Phước Kiều, du khách sẽ thấy rất nhiều sản phẩm bằng đồng phục vụ trong các dịp tế lễ, hội hè cũng như đồ dùng sinh hoạt hàng ngày. Ngoài chiêm ngưỡng các sản phẩm độc đáo, tinh xảo, du khách có thể xem người dân đúc đồng, mua đồ đồng làm quà lưu niệm.

Làng du lịch cộng đồng Cẩm Phú ở xã Điện Phong, thị xã Điện Bàn, nằm cách Hội An khoảng 15 km là vùng đất sở hữu nhiều giá trị văn hóa, nghề truyền thống độc đáo như điêu khắc gỗ, trồng hoa, ươm tơ dệt lụa, nuôi tằm… Du khách thăm làng sẽ được trải nghiệm khung cảnh đồng quê, tham quan các xưởng mộc, dệt, xem dân trình diễn bắt tôm cá trên sông Thu Bồn…

Trải nghiệm dệt ở làng nghề Cẩm Phú.

Rừng dừa Bảy Mẫu

Từ trung tâm phố cổ Hội An, men theo dọc bờ sông Hoài hơn 3 km là khu rừng dừa nước Bảy Mẫu rộng hơn chục hecta, thuộc xã Cẩm Thanh. Dịch vụ chèo thuyền thúng chở khách tham quan rừng dừa xuất hiện ở Cẩm Thanh vài năm trở lại đây và dần trở thành “đặc sản” không thể thiếu của du lịch Hội An. Mỗi thuyền chỉ được phép chở tối đa hai người. Để tham quan rừng dừa, mỗi khách trả 200.000 đồng là được ngồi thuyền thúng, len lỏi khắp những lạch nước, hai bên là rừng dừa xanh ngắt trong khoảng một tiếng.

Ngoài đi thuyền thúng, du khách còn được xem biểu diễn múa thuyền, hướng dẫn làm những đồ chơi nhỏ xinh bằng lá dừa nước như bông hoa, con cào cào, vòng tay, mắt kính, nhẫn, hay mũ… làm quà lưu niệm. Nếu đến Bảy Mẫu vào tháng 8 âm lịch, du khách sẽ được thưởng thức quả dừa nước chín với lớp cùi giòn và ngọt.

Rừng dừa Bảy Mẫu

Lịch trình tham khảo

Đặc sản

Tới Hội An du khách không bao giờ sợ đói và thiếu lựa chọn đồ ăn. Từ sáng sớm tới tối khuya phố Hội luôn đầy ắp hàng quán mở đón khách ăn uống tấp nập. Giá cả còn rất “dễ chịu” với các món chè bán vỉa hè chỉ 5.000 – 10.000 đồng một cốc, bánh mì giá 15.000 – 25.000 đồng một ổ hay tô cao lầu, mì Quảng chỉ 25.000 đồng.

Những địa chỉ ăn uống nổi tiếng mà du khách Việt hay nước ngoài không thể bỏ qua là: cơm gà Bà Buội, bánh mì Phượng, bánh mì Madam Khánh, bánh xèo Giếng Bá Lễ, cơm chay chợ Hội An, nước thảo mộc Mót Hội An, cao lầu Thanh…

Đồ ăn vặt bán vỉa hè của Hội An, đặc biệt các món ngọt cũng không thể đếm xuể. Thực khách hảo ngọt nên thử qua kem ống, các loại chè xoa xoa, chè hạt sen, chè đậu ván, tào phớ, bánh xoài, bánh da heo…

Mua gì làm quà?

Đèn lồng là món quà gắn liền với Hội An. Bạn nên tìm mua ở vào những cửa tiệm lớn vừa làm vừa bán, để có lựa chọn đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ và chất liệu.

Hình ảnh đặc trưng của Hội An chính là những chiếc đèn lồng.

Tượng đồng được bày bán khắp nơi trong phố cổ, giá từ 130.000 đến 350.000 đồng tùy kích cỡ. Đây đều là sản phẩm của làng đúc đồng Phước Kiều nức tiếng Hội An.

Tò he đất là một sản phẩm từ làng gốm Thanh Hà, Hội An. Không có mẫu mã đa dạng nhưng đây vẫn là đồ lưu niệm được ưa chuộng vì giá rẻ, khoảng 5.000 đồng.

Làng nghề phố Hội còn nổi tiếng với đồ khắc gỗ. Nghệ nhân chế tác đều xuất thân từ làng mộc Kim Bồng, một số mở hẳn xưởng chế tác trực tiếp trong phố cổ. Giá một món đồ dao động từ 120.000 đến 300.000 đồng.

Lụa tơ tằm Hội An có đặc điểm thoáng mát, nhẹ và mềm mại. Ngoài quần áo, túi, khăn có sẵn, bạn có thể đặt tiệm may siêu tốc theo thiết kế riêng của mình và nhận lại chỉ sau một ngày. Giá một chiếc khăn lụa trung bình là 150.000 đồng.

Nếu muốn mua đồ ăn Hội An làm quà, gợi ý cho bạn là bánh đậu xanh, bánh thuẫn, bánh phu thê, tương ớt cũng là lựa chọn hay.

Hội An
Exit mobile version