Gốm Bát Tràng là tên gọi chung của các loại đồ gốm Việt Nam được sản xuất tại làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, thành phố Hà Nội và xã Phụng Công, tỉnh Hưng Yên.
Tên gọi Bát Tràng có thể hiểu là “cái đình lớn chuyên sản xuất bát”. Tuy nhiên, theo một số tài liệu khác, tên gọi Bát Tràng có thể bắt nguồn từ tên gọi Bạch Thổ Phường, nghĩa là “phường đất sét trắng”.
Lịch sử
Khi Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, 5 dòng họ làm nghề gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) là Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm đã quyết định đưa các nghệ nhân làm gốm và gia đình dời làng di cư về kinh thành Thăng Long tìm đất lập nghiệp. Đến Bạch Thổ phường thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An (nay là xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội) – nơi có nguồn nguyên liệu tốt để làm đồ gốm là đất sét trắng, 5 dòng họ đã kết hợp với dòng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh.

Cũng ở thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (hay Cảo), Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong) được cử đi sứ Bắc Tống. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) (hiện nay tại Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, phải nghỉ lại. Ở đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho các làng nghề gốm Việt Nam. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng. Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men sắc màu vàng đỏ. Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lãng (thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) nước men màu đỏ màu vàng thẫm.
Thời kỳ rực rỡ nhất của gốm sứ Bát Tràng là thế kỷ 16 – 17. Sau khi thành lập, nhà Minh (Trung Quốc) chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài làm cho việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế đã tạo điều kiện cho đồ gốm Bát Tràng mở rộng thị trường ở vùng Đông Nam Á. Khi nhà Minh (Trung Quốc) bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng (1567) nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản, đã tạo cho quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản đặc biệt phát triển, qua đó nhiều đồ gốm Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản.
Thế kỉ 15–17 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu Việt Nam, trong đó ở phía bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng là Bát Tràng và Chu Đậu-Mỹ Xá (các xã Minh Tân, Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Lúc bấy giờ, Thăng Long (Hà Nội) và Phố Hiến (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) là hai đô thị lớn nhất và cũng là hại trung tâm mậu dịch đối ngoại thịnh đạt nhất của Đàng Ngoài. Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Nhị (sông Hồng) ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến, trên đường thủy nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài. Qua thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và các nước phương Tây, đồ gốm Việt Nam được bán sang Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á, Nam Á.
Chính sách hạn chế ngoại thương của các chính quyền Trịnh, Nguyễn trong thế kỉ 18 và của nhà Nguyễn trong thế kỉ 19 đã làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút và việc xuất khẩu đồ gốm cũng bị suy giảm. Đó là lý do khiến một số làng nghề gốm bị gián đoạn sản xuất (như làng gốm Chu Đậu-Mỹ Xá). Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có một thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây rất cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội từ quý tộc đến dân thường. Trong giai đoạn này, gốm Bát Tràng xuất khẩu giảm sút, nhưng làng gốm Bát Tràng vẫn là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước.
Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), năm 1957, 10 cá nhân là địa chủ, con địa chủ của thôn Giang Cao (sau cải cách ruộng đất năm 1955) góp vốn thành lập công ty gốm Trường Thịnh, để sản xuất gốm sứ dân dụng phục vụ xã hội, đây là nền tảng khởi đầu cho Xí nghiệp sứ Bát Tràng.
Năm 1958 nhà nước làm công tư hợp doanh, chuyển đổi công ty gốm Trường Thịnh thành Xí nghiệp sứ Bát Tràng, thuê công nhân thôn Bát Tràng vào làm việc. Với cơ sở vật chất đầy đủ, nhân công Bát Tràng được thử nghiệm, thực hành, sáng tạo trên cơ sở sự chịu khó, cần cù đã tạo nên được một thế hệ có tay nghề gốm vững chãi. Cùng lúc đó một số hợp tác xã như Hợp Thành (1962), đóng ở phần đất gần với xã Đa Tốn, Hưng Hà (1977), Hợp Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ (1984), Xí nghiệp X51, X54 (1988)… Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mĩ nghệ và một số hàng xuất khẩu. Những nghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Vấn, Lê Văn Cam, Trần Hợp… đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở các tỉnh.
Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần, những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình. Xã Bát Tràng nay đã trở thành một trung tâm gốm lớn.
Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa… kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện… và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc…




Loại hình đồ gốm Bát Tràng
Hầu hết, đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do tính chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả màu ngà, đục. Bát Tràng cũng là làng gốm có các dòng men riêng từ loại men ngọc cùng với nâu và trắng cho đến men rạn với cốt gốm xốp có màu xám nâu. Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia loại hình của đồ gốm Bát Tràng như sau:
- Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát, chén, khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ.
- Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng: Bao gồm các loại chân đèn, chân nến, lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm. Trong đó, chân đèn, lư hương và đỉnh là những sản phẩm có giá trị đối với các nhà sưu tầm đương đại vì lẽ trên nhiều chiếc có minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm tháng chế tạo, nhiều chiếc còn ghi khắc cả họ và tên của những người đặt hàng. Đó là một nét đặc biệt trong đồ gốm Bát Tràng.
- Đồ trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng.

Kỹ thuật trang trí
Thế kỉ 14–15: Hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Lý–Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam. Khoảng thời gian này đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam đồng thời xuất hiện những đồ gốm hoa nâu vẽ theo gốm hoa lam. Đề tài trang trí còn giới hạn trong các đồ án hoa lá, tiếp nối gốm hoa nâu thời Trần.
Thế kỉ 16: cùng với việc xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn, kĩ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo. Đề tài trang trí phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thủy… Trang trí vẽ men lam còn giữ được nhịp độ phát triển, nhiều loại văn hình học và hoa lá còn thấy gần gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ở Chu Đậu,
Thế kỉ 17: kĩ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh tế, cầu kì, gần gũi với chạm đá và gỗ. Đề tài trang trí tiếp nối thế kỉ 16, đồng thời xuất hiện các đề tài trang trí mới: bộ tứ linh, hổ phù, nghê, hạc… Những đề tài chạm nổi, để mộc điển hình khác như bông cúc hình ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hình lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn-Thọ (chữ Hán)… Việc sử dụng men lam kém dần, tuy đề tài trang trí vẽ tương đồng với chạm nổi. Thế kỉ 17 xuất hiện dòng gốm men rạn với sự kết hợp trang trí đề tài nổi bật như rồng, tứ linh, hoa lá, cúc-trúc-mai. Trong khoảng thời gian này còn xuất hiện loại gốm nhiều màu, nổi trội nhất là màu ngọc với các đề tài trang trí độc đáo: hoa sen, chim, nghê, hình người…
Thế kỉ 18: trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo thay thế hẳn trang trí vẽ men lam trên gốm Bát Tràng. Các kỹ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi đã thích ứng với việc sử dụng men đơn sắc (men trắng xám và men rạn). Đề tài trang trí ngoài bộ tứ linh, rồng, nghê còn thể hiện các loài cây tượng trưng cho bốn mùa. Ngoài đề tài sen, trúc, chim và hoa lá còn thấy xuất hiện các loại văn bát quái, lá lật… Hoa văn đường diềm phát triển manh các nền gấm, chữ vạn, cánh sen nhọn, hồi văn, sóng nước…
Thế kỉ 19: gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển phong cách kết hợp sử dụng nhiều loại men vào trang trí. Bên cạnh các đề tài đã có, Bát Tràng còn xuất hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài theo các điển tích Trung Quốc như Ngư ông đắc lợi, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá Hải, Ngư ông kéo lưới…
Các dòng men
Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kì khác nhau để tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau:
Men lam
Đây là loại men sớm nhất được sử dụng tại Bát Tràng từ thế kỉ 14. Men lam là men gốm được cộng thêm với gốc màu là oxide côban. Thợ Bát Tràng sử dụng men lam đồng thời với kĩ thuật dùng bút lông làm công cụ vẽ trên đồ gốm. Men lam không để để trần như men nâu mà bao giờ cũng được phủ lớp men màu trắng bóng, có độ thủy tinh hoá cao sau khi nung. Men lam có sắc độ từ xanh chì đến xanh sẫm.
Men nâu
Một trong số các loại men sử dụng đầu tiên ở Bát Tràng là men nâu, sắc độ màu của men phụ thuộc nhiều vào xương gốm (xương gốm Bát tràng dày và thường có màu nâu xám). Men nâu có sắc độ đỏ nâu hay gọi là màu bã trầu (chocolate), men này không bóng, trên bề mặt men thường có vết sần.
Trong các loại hình của nhóm đồ gốm men nhiều mầu thế kỉ 16–17, men nâu được dùng xen lẫn với men ngọc, men ngà, tạo ra các sắc độ khác nhau. Men nâu giữ vị trí các đường chỉ chia băng, tô lên hoa sen hoặc các hình rồng, đối với lư hương chữ nhật men nâu tô lên phần chân đế…
Men trắng (ngà)
Đây là loại men trắng, nhiều trường hợp ngả màu vàng ngà, bóng khi nhiệt độ nung đạt độ cao nhưng cũng nhiều trường hợp có màu trắng xám, trắng sữa, đục. Cùng với kiểu dáng và trang trí, men trắng ngà cũng tạo nên một nét riêng biệt của đồ gốm Bát Tràng. Men trắng ngà đã thấy sử dụng phủ lên trang trí men lam hay men nâu, nhưng trong rất nhiều đồ gốm Bát Tràng chỉ thấy dùng men trắng ngà.
Gốm Bát Tràng thế kỉ 17 đạt đỉnh cao trong kĩ thuật trang trí nổi với hầu hết các thủ pháp kĩ thuật chạm trổ, dán ghép. Men trắng ngà được sử dụng trên các lư hương để phủ trên các rìa, ước và đường viền ngoài phần trang trí nổi, rất ít khi phủ lên hình trang trí. Vì men trắng mỏng, xương gốm được lọc luyện kĩ và độ nung cao nên có chất lượng tốt, một số sản phẩm men trắng ngà phủ lên trang trí nổi dày vẫn có vết rạn men.
Men ngọc
Thế kỉ 14–19 men ngọc được dùng khá nổi trội cùng với men trắng ngà và nâu. Men ngọc, men ngà và nâu tạo ra loại Tam thái riêng của gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17. Trên chân đèn men ngọc tô lên những bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen các bông hoa tròn hình bánh xe, các hình rồng, các bông hoa nổi đường diềm quanh vai.
Men ngọc, dù ở các sắc độ khác nhau nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất lớn vì chỉ thấy trên đồ gốm Bát Tràng thế kỉ 16–17 và có thể xem đây là một dữ kiện đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ gốm Bát Tràng trên nhiều loại hình khác nhau.
Men rạn
Đây là một loại men độc đáo tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương gốm và men. Cho đến nay các tài liệu gốm men cổ ở Việt Nam xác nhận mang men rạn chỉ được sản xuất tại lò gốm Bát Tràng từ khoảng cuối thế kỉ 16 và kéo dài tới đầu thế kỉ 20.
Cẩm nang du lịch Làng gốm Bát Tràng
Làng gốm Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng, TP Hà Nội. Đây là địa danh nổi tiếng với nghề làm gốm sứ truyền thống hơn 700 năm tuổi. Làng có diện tích khoảng 22 km2, dân số hơn 58.600 người, vị trí địa lý thuận lợi. Những năm qua, Bát Tràng phát triển mạnh trong sản xuất, vận chuyển, mua bán sản phẩm gốm và thu hút ngày càng đông khách du lịch.
Di chuyển
Làng gốm Bát Tràng nằm cách hồ Hoàn Kiếm khoảng 15 km về phía đông nam. Du khách có thể sử dụng nhiều phương tiện:
– Đường bộ, xe cá nhân: di chuyển bằng xe máy, ôtô, xe đạp… qua cầu Long Biên, Chương Dương, Vĩnh Tuy hoặc Thanh Trì rồi đi dọc theo đê sông Hồng.
– Đường bộ, phương tiện công cộng: xe buýt số 47A (tuyến Long Biên – Bát Tràng) dừng ngay chợ gốm.
– Đường sông: du khách liên hệ trực tiếp với các công ty lữ hành và chọn tour du lịch trên sông Hồng. Các tour này đều có điểm dừng ở Bát Tràng.
Tham quan
Có các địa điểm nổi bật nhất tại Bát Tràng mà du khách nhất định phải ghé là chợ gốm, nhà cổ Vạn Vân, xưởng gốm truyền thống, đình làng Bát Tràng, bảo tàng gốm và lò bầu cổ.
Chợ gốm Bát Tràng
Với diện tích 6.000 m2 gồm khoảng 300 gian hàng, chợ là nơi hội tụ đủ các sản phẩm gốm sứ từ những cơ sở sản xuất nổi tiếng trong làng. Du khách có thể dễ dàng tìm thấy đồ trang trí mỹ nghệ, quà tặng, lưu niệm và đồ gia dụng từ gốm sứ với kiểu dáng đa dạng, tinh xảo, đậm dấu ấn nghệ thuật của làng nghề. Các sản phẩm tiêu biểu: lọ hoa, bát đĩa, ly sứ… Chợ mở cửa từ 7h30 đến 17h30 (mùa hè) và 8h30 đến 17h30 (mùa đông).

Nhà cổ Vạn Vân
Ngôi nhà nằm trong ngõ nhỏ gần chợ gốm, mang nét hoài cổ, không gian trầm mặc. Đây là nơi để du khách chiêm ngưỡng những sản phẩm gốm sứ từ kho tàng lưu giữ hơn 300 cổ vật quý hiếm có niên đại từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, do chủ nhân Trần Ngọc Lâm sưu tầm. Ngôi nhà mở cửa từ 8h đến 17h30 hàng ngày.

Bát Tràng Museum
Bảo tàng ngoài công lập đầu tiên tại làng gốm Bát Tràng.

Khám phá các tác phẩm gốm tiêu biểu do Cố Nghệ nhân nhân dân Vũ Thắng dành nhiều tâm huyết chế tác trong suốt gần 50 năm làm nghề.

Xưởng gốm
Xưởng gốm truyền thống ở Bát Tràng cũng là gợi ý để du khách tham quan, tìm hiểu rõ hơn về nghề gốm và tận mắt xem quy trình sản xuất gốm sứ tại xưởng cùng sự hướng dẫn từ những người thợ gốm. Bên cạnh việc theo dõi từng công đoạn chế tác gốm sứ, du khách sẽ được các nghệ nhân giải thích và chia sẻ những câu chuyện đằng sau mỗi tác phẩm, giúp tìm hiểu sâu về ý nghĩa của từng sản phẩm gốm sứ trong đời sống.

Đình làng Bát Tràng
Đây là địa điểm giàu giá trị lịch sử và văn hóa mà du khách nhất định phải ghé thăm, là nơi thờ các vị thần đã có công lớn trong việc bảo vệ đất nước, giữ gìn bình yên cho dân làng. Đình làng còn là nơi diễn ra các hoạt động của lễ hội truyền thống làng gốm Bát Tràng được tổ chức từ 14 đến 16 tháng 2 Âm lịch hằng năm, với nhiều hoạt động trải nghiệm văn hóa độc đáo, trò chơi dân gian…

Bảo tàng gốm Bát Tràng

Bảo tàng còn có tên gọi Trung tâm Tinh hoa Làng nghề Việt. Đây là công trình kiến trúc lấy cảm hứng từ hình ảnh “bàn xoay vuốt gốm” quen thuộc trong nghề, gây ấn tượng với khách tham quan. Bảo tàng gồm 5 tầng, tôn vinh nghề gốm truyền thống và bảo tồn những giá trị của tinh hoa văn hóa gốm sứ. Bên cạnh đó, bảo tàng còn cung cấp nhiều dịch vụ như trưng bày, triển lãm, tham quan, mua sắm, nghỉ dưỡng và tham gia đấu giá các tác phẩm gốm sứ quý hiếm.

Vé vào cổng và tham quan không gian gốm tại tầng 1, 2 và 4 là 60.000 đồng/người. Ngoài ra, còn có không gian nghệ thuật đương đại, trải nghiệm làm gốm, thiền, ăn uống có giá vé từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng (bao gồm cả combo).
Lò bầu cổ
Đây là chiếc lò nung duy nhất còn sót lại từ thế kỷ XIX, mang dấu ấn di sản về kỹ thuật nung gốm truyền thống, là minh chứng cho lịch sử lâu đời, truyền thống của nghề gốm tại Bát Tràng. Ngày nay, lò bầu cổ là địa điểm thu hút đông đảo du khách ghé thăm, tổ chức các chương trình ngoại khóa, giúp cả trẻ em và người lớn có cơ hội tìm hiểu sâu về nghệ thuật thủ công truyền thống dân tộc.
Hoạt động trải nghiệm
Tự làm gốm
Du khách đến làng gốm Bát Tràng không thể bỏ qua hoạt động tự làm các sản phẩm gốm. Dưới sự hướng dẫn của thợ gốm, cả người lớn và trẻ em đều sẽ được học cách nặn gốm từ những thao tác cơ bản. Sau khi hoàn thành, tác phẩm sẽ được nung và đóng gói để du khách mang về làm kỷ niệm.

Tham gia lễ hội làng gốm
Hàng năm vào các ngày 14, 15, 16 tháng 2 Âm lịch, làng gốm tổ chức lễ hội truyền thống. Du khách tự do tham gia vào các nghi lễ, tận hưởng không khí nhộn nhịp của những trò chơi dân gian và giao lưu văn hóa độc đáo. Đặc biệt trong phần Hội, du khách có thể trải nghiệm thêm một số hoạt động như: các trò chơi dân gian, thi đấu thể thao, văn nghệ, tham dự triển lãm, tham quan và mua sắm…
Chụp ảnh tại Bảo tàng gốm
Bảo tàng gốm Bát Tràng có kiến trúc độc đáo, mang giá trị nghệ thuật nên thu hút rất nhiều du khách đến check in, chụp ảnh lưu niệm, đặc biệt là giới trẻ. Trong đó nơi chụp đẹp và nghệ thuật nhất, được nhiều người yêu thích là sảnh tầng 1, không gian thưởng trà, cà phê tại tầng 4.

Ẩm thực
Ngày 18/8/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh “Tri thức nấu cỗ Bát Tràng” vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, cùng nghề làm bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng) và tri thức chế biến, thưởng thức Chả cá Lã Vọng (Hà Nội).

Cỗ Bát Tràng là một trong những đặc trưng của người dân làng gốm bên cạnh nghề truyền thống. Mâm cỗ thể hiện tinh thần làng quê Bắc Bộ, vừa là di sản văn hóa ẩm thực đậm bản sắc Việt Nam. Mâm cỗ thường mang ý nghĩa biểu tượng qua số lượng bát đĩa được sắp xếp trên bàn tiệc:
– 4 bát – 6 đĩa: Tượng trưng cho sự viên mãn, đủ đầy.
– 6 bát – 8 đĩa: “Cỗ bát trân” với 6 bát, 8 đĩa thường xuất hiện trong các dịp trọng đại, lễ Tết, mang ý nghĩa phát tài phát lộc.
Ngoài cách sắp đặt, các món ăn trong mâm cỗ cũng đa dạng, kết hợp giữa hương vị truyền thống và cách chế biến khác biệt. Các món ăn khi phục vụ thực khách đều được bày lên những bộ bát đĩa Bát Tràng tinh xảo, đẹp mắt. Các món nổi tiếng của mâm cỗ Bát Tràng gồm:
Canh măng mực
Măng Thanh Bì từ Yên Bái được chọn lựa kết hợp với mực khô Thanh Hóa, loại mực ngọt thịt, thơm tự nhiên. Măng được ngâm, luộc nhiều lần để loại bỏ vị chát, sau đó xé sợi nhỏ. Mực tẩy bằng rượu gừng, nướng vàng trên than hoa, sau đó xé nhỏ và xào săn. Nước dùng được ninh từ xương lợn, gà và tôm he, mang lại vị ngọt thanh và đậm đà.

Su hào xào mực
Su hào nạo kết hợp với mực khô dai giòn. Su hào được gọt vỏ, bào sợi, sau đó vắt khô để giữ độ giòn. Mực khô được làm sạch, nướng vàng, xé nhỏ, rồi xào cho săn. Cho các nguyên liệu còn lại vào xào chung với gia vị như muối, đường và tiêu, tạo nên món ăn có vị giòn sần sật và hương thơm đặc trưng. Ngoài ra, món ăn còn có thể thêm trứng rán, thịt nạc luộc, thịt gà, giò và nấm hương.

Chả tôm cuốn lá lốt
Tôm sông tươi là thành phần chính của món ăn, cùng với thịt băm, lá lốt và các gia vị như hành tím, tiêu, nước mắm… Múc chả vào lá lốt bọc lại thật chặt tay, rồi nướng trên than hoa. Pha nước chấm chua ngọt hoặc sử dụng nước sốt mè rang.
Nem chim câu
Chim bồ câu sơ chế sạch, lọc phần thịt và băm nhỏ. Phần phụ gồm có mộc nhĩ, nấm hương, cà rốt, hành tây, củ đậu, miến, hành hoa, rau mùi, cuốn trong bánh đa nem. Cho thịt chim đã băm nhỏ cùng hỗn hợp rau củ và gia vị trộn đều. Nhân được gói vào bánh đa nem vừa phải, gói đều tay, đẹp mắt và rán sơ 70% vớt ra để ráo dầu. Khi gần ăn rán lần hai cho đến khi vàng giòn.

Ngoài các món đặc trưng trên, cỗ Bát Tràng còn có các món phổ biến như bánh chưng, giò lụa, gà luộc, canh bóng, nộm su hào, cá kho 7 tầng, tam tam lươn (lươn bung), xôi vò chè đường, trà hột hoa sói, chè kho,
Địa chỉ thưởng thức:
– Ẩm thực làng cổ Hòa Thu: làng cổ 1, Ng. 72, Bát Tràng, Hà Nội
– Nhà nghệ nhân nấu cỗ Nguyễn Thị Lâm: thôn 1, Bát Tràng, Hà Nội
– Nhà nghệ nhân ẩm thực Phạm Thị Diệu Hoài: số nhà 32, thôn 2, Bát Tràng, Hà Nội
– Nhà hàng Tinh Hoa: tầng 4, Trung tâm Tinh hoa Làng nghề Việt, thôn 5, Bát Tràng, Hà Nội
Các món ăn vặt
Ngoài các món ăn kể trên, đến Bát Tràng du khách cũng nên trải nghiệm các món ăn dân dã khi đi tham quan, mua sắm tại chợ như: bánh tẻ, khoai nướng cốt dừa, các loại bún (bún chả, bún mẹt, bún nem…), trà đá, nước mía, nước dừa.
Lưu ý
Làng gốm Bát Tràng khá rộng. Nếu đi theo đoàn đông người, đặc biệt có người già hoặc trẻ nhỏ, du khách nên sử dụng xe điện để di chuyển, tiết kiệm thời gian và sức lực.
Khi tham quan chợ Bát Tràng, du khách cần lưu ý đi lại cẩn thận vì đây là nơi bày bán nhiều mặt hàng dễ vỡ.
Nên chọn giày thể thao hoặc giày thoải mái để dễ dàng di chuyển trong khu vực làng gốm, nơi có nhiều đường đất và gạch.
Đồ gốm sứ dễ bị sứt mẻ ở đáy và miệng. Trước khi mua, hãy kiểm tra kỹ lưỡng sản phẩm để đảm bảo không có vết nứt hay hỏng hóc.
Có thể mặc cả khi mua sắm tại chợ gốm.


Bạn phải đăng nhập để bình luận.